Public
Authored by hoangtaybaokiem1993

Vai trò của kế toán trong quản lý doanh nghiệp

Vai trò của kế toán trong quản lý doanh nghiệp

Edited
57 Bytes
  • Vai trò của kế toán trong quản lý doanh nghiệp Theo tinh thần của kế toán quốc tế, kế toán được định nghĩa là hệ thống thông tin và kiểm tra dùng để đo lường/phản ánh, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền tạo ra của một đơn vị kinh tế.

    Theo Luật kế toán của Việt Nam, định nghĩa kế toán được trình bày ở điều 4 như sau: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam thì kế toán được xem là việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn của Nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp. Xem thêm >>> viết thuê luận văn Vậy kế toán thực hiện ba công việc cơ bản là đo lường, xử lý/ghi nhận và truyền đạt/cung cấp thông tin định lượng về hiện trạng tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền tạo ra trong một đơn vị. Trong thực tiễn công tác kế toán thường được đặt ra ba câu hỏi sau: Thứ nhất, kế toán đo lường cái gì? – Theo các định nghĩa, kế toán đo lường và phản ánh, xử lý các nghiệp vụ/giao dịch kinh tế – tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của một đơn vị. Thứ hai, kế toán phản ánh và xử lý các nghiệp vụ khi nào và như thế nào? – Kế toán sử dụng các nguyên tắc, chuẩn mực, các phương pháp, công cụ kế toán để ghi chép, phản ánh tình trạng và những sự thay đổi của các giao dịch và phân tích những ảnh hưởng của những sự thay đổi này trên tài sản của đơn vị. Thứ ba, kế toán truyền đạt cung cấp thông tin bằng cách nào? – Chính bằng các báo cáo tài chính. Mục tiêu chính của kế toán là phân tích, giải trình và sử dụng thông tin. Trong doanh nghiệp cần rất nhiều dạng thông tin khác nhau, trong đó hệ thống thông tin kế toán là một trong những bộ phận quan trọng vì nó giữ vai trò then chốt trong quản lý dữ kiện kinh tế. Nó là trung tâm tài chính của hệ thống thông tin quản trị giúp ban giám đốc cũng như người ngoài doanh nghiệp có một cái nhìn tổng quát về tổ chức của đơn vị. Điểm hạn chế của kế toán là nó chỉ cung cấp được những thông tin định lượng mà thôi. Những gì không định lượng kế toán không phản ánh được.

    Mục đích của kế toán quản trị và kế toán tài chính Theo mục đích cung cấp thông tin, hệ thống kế toán trong doanh nghiệp được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị

    Trong nền kinh tế thị trường, những chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có lợi ích kinh tế, quyền hạn, trách nhiệm, quan hệ khác nhau dẫn đến hình thành những nhu cầu thông tin khác nhau về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên trong doanh nghiệp. Từ đó, trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán doanh nghiệp phải có hai bộ phận chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thông tin của hai nhóm đối tượng khác nhau. Đó chính là kế toán tài chính và kế toán quản trị. Nguồn >>> Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trịai trò của kế toán trong quản lý doanh nghiệp Theo tinh thần của kế toán quốc tế, kế toán được định nghĩa là hệ thống thông tin và kiểm tra dùng để đo lường/phản ánh, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền tạo ra của một đơn vị kinh tế.

    Theo Luật kế toán của Việt Nam, định nghĩa kế toán được trình bày ở điều 4 như sau: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam thì kế toán được xem là việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn của Nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp. Xem thêm >>> viết thuê luận văn Vậy kế toán thực hiện ba công việc cơ bản là đo lường, xử lý/ghi nhận và truyền đạt/cung cấp thông tin định lượng về hiện trạng tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền tạo ra trong một đơn vị. Trong thực tiễn công tác kế toán thường được đặt ra ba câu hỏi sau: Thứ nhất, kế toán đo lường cái gì? – Theo các định nghĩa, kế toán đo lường và phản ánh, xử lý các nghiệp vụ/giao dịch kinh tế – tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của một đơn vị. Thứ hai, kế toán phản ánh và xử lý các nghiệp vụ khi nào và như thế nào? – Kế toán sử dụng các nguyên tắc, chuẩn mực, các phương pháp, công cụ kế toán để ghi chép, phản ánh tình trạng và những sự thay đổi của các giao dịch và phân tích những ảnh hưởng của những sự thay đổi này trên tài sản của đơn vị. Thứ ba, kế toán truyền đạt cung cấp thông tin bằng cách nào? – Chính bằng các báo cáo tài chính. Mục tiêu chính của kế toán là phân tích, giải trình và sử dụng thông tin. Trong doanh nghiệp cần rất nhiều dạng thông tin khác nhau, trong đó hệ thống thông tin kế toán là một trong những bộ phận quan trọng vì nó giữ vai trò then chốt trong quản lý dữ kiện kinh tế. Nó là trung tâm tài chính của hệ thống thông tin quản trị giúp ban giám đốc cũng như người ngoài doanh nghiệp có một cái nhìn tổng quát về tổ chức của đơn vị. Điểm hạn chế của kế toán là nó chỉ cung cấp được những thông tin định lượng mà thôi. Những gì không định lượng kế toán không phản ánh được.

    Mục đích của kế toán quản trị và kế toán tài chính Theo mục đích cung cấp thông tin, hệ thống kế toán trong doanh nghiệp được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị

    Trong nền kinh tế thị trường, những chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có lợi ích kinh tế, quyền hạn, trách nhiệm, quan hệ khác nhau dẫn đến hình thành những nhu cầu thông tin khác nhau về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên trong doanh nghiệp. Từ đó, trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán doanh nghiệp phải có hai bộ phận chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thông tin của hai nhóm đối tượng khác nhau. Đó chính là kế toán tài chính và kế toán quản trị. Nguồn >>> Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị

Markdown is supported
0% or
You are about to add 0 people to the discussion. Proceed with caution.
Finish editing this message first!
Please register or to comment